Trong ngành công nghiệp cao su, nhựa thông thường được sử dụng làm chất làm mềm để làm mềm cao su, giúp dễ nhào nặn và phân tán chất độn, tạo độ dẻo cho cao su trong quá trình ép đùn trục vít sau này. Ngoài ra, nó còn giúp phân tán chất tạo màu và làm cho bề mặt sản phẩm mịn hơn. Cao su chứa 2-6% nhựa thông có thể tăng cường độ bền xé và độ đàn hồi. Trong ngành công nghiệp cao su tổng hợp, xà phòng kali nhựa thông không cân đối được sử dụng làm chất nhũ hóa trong sản xuất cao su styren-butadien, chloropren, nitrile-butadien và acrylonitrile-butadien-styren. Từ những năm 1970, lượng nhựa thông được sử dụng trong sản xuất cao su tổng hợp ở nhiều nước trên thế giới chiếm khoảng 20% tổng sản lượng nhựa thông toàn cầu. Việc sử dụng
nhựa thông không cân đối
Với vai trò là chất nhũ hóa, nó có thể tăng cường lực kết dính của cao su, khả năng chịu nhiệt có thể tăng lên 25%, và khả năng chống mài mòn và chống rách tốt hơn so với cao su styren-butadien thông thường. Khi trộn với cao su tự nhiên, các đặc tính liên kết được cải thiện đáng kể.
Dù là chất kết dính gốc cao su, chất kết dính gốc nhựa tổng hợp hay chất kết dính gốc thực vật, nhựa thông thường được sử dụng làm thành phần kết dính.
Vật liệu gốc nhựa thông
Nhìn chung, chúng thích hợp cho các loại keo nóng chảy, keo nhạy áp và keo cao su. Các thành phần cơ bản của keo nóng chảy là parafin, copolymer etylen-vinyl axetat và nhựa thông cùng các dẫn xuất của nó. Việc thêm nhựa thông chủ yếu nhằm tăng cường độ bền, độ mềm và tính chất kết dính của keo. Keo nóng chảy được sử dụng trong ngành đóng sách, sản xuất ủng cao su, sản xuất đồ nội thất và ngành công nghiệp bao bì.
Vì nhựa thông dễ tan trong cồn, xăng, dầu thông và các dung môi hữu cơ khác, nên nhựa thông là một trong những nguyên liệu cơ bản của sơn. Trong sản xuất sơn dầu khô gốc nhựa thông, nhựa thông thường được chuyển hóa thành nhựa kết tủa, sau đó được nấu với dầu glycerin (như dầu tung) và thêm các dung môi dễ bay hơi để tạo ra nhiều loại sơn khác nhau. Bằng cách thêm các chất tạo màu khác nhau vào sơn, nó có thể được chế biến thành sơn men.
Nhựa thông
cũng có những ứng dụng quan trọng trong
lớp phủ đường
Để hiển thị biển báo phản quang ở những nơi có mật độ giao thông cao như đường cao tốc, sân bay, bến cảng, v.v., người ta thường sử dụng lớp phủ nhựa nhiệt dẻo, được phủ lên vạch phân làn, vạch lề đường, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và vạch kẻ đường dành cho xe cộ, giúp người lái xe có thể nhận biết biển báo giao thông từ khoảng cách xa nhất. Lớp phủ này bao gồm nhựa nhiệt dẻo, chất làm dẻo, chất tạo màu, chất độn, vật liệu phản quang và chất chống thấm nước.
Cái
nhựa nhiệt dẻo
Nhựa thông chủ yếu là este nhựa thông đực được hình thành do tác dụng của nhựa thông đực và polyol, ngoài ra còn có nhựa thông trùng hợp và este polyol nhựa thông không cân đối. Ngành công nghiệp sơn và chất phủ của nước ta là một trong những ngành sử dụng nhựa thông nhiều nhất. Mức tiêu thụ nhựa thông trung bình trong sản xuất sơn là 5-6%.